ó những phương ngữ rất đặc trưng của vùng. Nếu bạn hỏi người Long An: “Năm nay lúa má sao anh?” Long An trả lời: “Hằng hà!” Còn người Vĩnh Long sẽ trả lời: “Nhóc luôn!”
Dân Nam Kỳ cũng lãng mạn lắm, gọi nước lên xuống ngày 2 lần bằng mấy chục từ diễn tả, như: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đứng, nước nhửn, nước ương, nước đổ, nước ngập, nước nổi, nước quay, nước lụt, nước giựt, nước rút, nước chảy, nước trôi, nước nhảy, nước bò…
"Khúc sông bên lở bên bồi
Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm."
Nước ròng còn chia ra: nước ròng cạn, nước ròng sát, nước ròng rặc, nước ròng kiệt; hay còn gọi tắt là nước cạn, nước sát, nước rặc, nước kiệt…
Thời điểm nước đứng gọi là “nước nhửn”.
"Nước lớn rồi lại nước ròng,
Đố ai bắt được con còng trong hang."
Dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ gọi thuyền hay đò thì ở Nam Kỳ gọi ghe và chia ra hàng chục loại: ghe chài, ghe đục, ghe be, ghe bầu, ghe cui, ghe cửa, ghe giàn, ghe lồng, ghe lườn, ghe ngo, ghe tam bản…
"Ghe bầu trở lái về đông
Làm thân con gái theo chồng nuôi con."
Người Nam Kỳ viết không sai chánh tả nhưng trong văn nói có nhiều đặc trưng của vùng, gọi là phát âm sai nếu theo lý thuyết chữ quốc ngữ.
Phát âm phụ âm cuối không phân biệt “n” và “ng”, “c” và “t”,””y”và “I”. Ví dụ: cục than thành cục thang, liên thành liêng, lan thành lang, mái và máy, lụt và lục, mát và mác, thước và thướt...
Phát âm “ê” thành “i”. Chẳng hạn cơm nếp, cái đệm thành cơm níp, cái địm. “ươ” thành “ơ”; trái mướp thành trái mớp, ăn cướp thành ăn cớp, đám cưới thành đám cứi, tức cười thành tức cừi.
Phụ âm “r” “g”, như rau răm thành gau găm, cá rô thành cá gô.
Phụ âm “r” thành “d”. Ví dụ: rau răm thành dao dăm, cá rô thành cá dô.
Vùng Gò Công cũ (Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây, thị xã Gò Công [tỉnh Tiền Giang], và Cần Đước, Cần Giuộc [tỉnh Long An]), ở trong quê sâu có cách phát âm “ng” thành “qu”. Ví dụ: ông ngoại thành ông quại.
Thành ra nói kêu " ông quại" cho toàn Nam Kỳ là không trúng.
Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh có cách phát âm “th” thành “kh”. Ví dụ: cái thùng thành cái khùng.
Dân Bến Tre (trừ Chợ Lách và Bình Đại) đọc phụ âm “tr” thành “t”.
Ví dụ: cây tre, cây trúc thành cây te, cây túc; Bến Tre thành Bến Te; Ba Tri thành Ba Ti; Giồng Trôm thành Giồng Tôm.
1. Một cốc nước sạch vì một giọt nước bẩn mà trở nên vẩn đục, nhưng một cốc nước đục không thể vì một giọt nước sạch mà trở nên tinh khiết.
2. Nếu bạn thực sự tài năng, thì bạn sẽ không sợ mình không có may mắn.
3. Đừng sợ đi chậm. Chỉ sợ đứng yên.
4. Trên đời không có sự phân biệt rõ ràng giữa bi kịch và hỉ kịch, nếu bạn có thể bước ra từ bi kịch, đó là hỉ kịch. Nếu bạn chìm đắm mãi trong hỉ kịch, đó là bi kịch.
5. Nếu không đọc sách, đi vạn dặm đường chẳng qua cũng chỉ là một người đưa thư.
6. Cái khuy áo đầu tiên sai, cái sau cùng khó mà chữa được.
7. Bạn bè thực sự không phải là những người có thể ngồi với nhau nói chuyện cả ngày không hết, mà là những người ngay cả khi chẳng nói với nhau câu nào vẫn không cảm thấy ngại ngùng.
8. Ngựa thường dễ bị khuỵu chân trên những con đường đất mềm, con người dễ ngã gục trong những lời đường mật.
9. Đừng sợ rằng bạn không biết một cái gì đó. Hãy sợ rằng bạn không chịu tìm hiểu về nó.
10. Thời gian tốt nhất để trồng cây là vào 20 năm trước. Thời gian tốt thứ hai là ngay bây giờ.
Hy vọng với 10 câu nói hay của người Do Thái trên có thể giúp bạn thay đổi và phát triển bản thân mỗi ngày, vượt qua mọi khó khăn trở ngại trong cuộc sống, để có một cuộc sống hạnh phúc và thành công hơn.
Sau Thế Chiến II, trong khu resort mái đỏ thanh nhã bên sườn núi ở New Hampshire (hình phía dưới), 44 quốc gia đã ngồi xuống với nhau thương thảo để thiết kế ra hệ thống tài chính toàn cầu mới với tên gọi là Bretton Woods (1944) - trong đó đồng đô la bám theo vàng và các đồng tiền khác bám theo đô la. Cấu trúc này dần trật bánh trong thập niên 60 do thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ quá lớn khiến kết nối vàng - đô la đứt gãy trong năm 1971 (do Richard Nixon công bố). Sau đó ra đời hệ thống Bretton Woods II (từ 1971 đến nay) được bảo đảm bởi "đồng tiền nội sinh" (inside money) hay tiền giấy chính phủ Hoa Kỳ. Song song là hệ thống Bretton Woods III bảo đảm bởi "tiền ngoại sinh" (outside money) - như vàng và các hàng hóa khác.
Tuy nhiên, khi các nước G7 tiến hành tịch thu khoản dự trữ ngoại hối của Nga (FX reserves) với lý do xâm chiếm Ukraine trong những ngày gần đây, thì chế độ tiền tệ (monetery regime) mà chúng ta thường biết đã kết thúc. Hệ thống ngân hàng được xây dựng dựa trên niềm tin rằng tiền bạc (money) được đặt đâu đó với sự chăm sóc/giám sát của người khác sẽ luôn hiện diện khi cần. Điều này đúng với các nhà đầu tư nhỏ lẻ với khoản tiền gửi (deposit) tại các ngân hàng thương mại địa phương và với các quốc gia có khoản tiền gửi ngoại hối (FX deposits) tại các ngân hàng trung ương nước ngoài. Niềm tin dày công xây dựng (hard-earned) là một phần rất quan trọng để phép màu "ngân hàng" có thể diễn ra - giúp cho các quốc gia phát triển có thể chi tiêu thâm hụt to lớn (deficit spend) với các hậu quả rất hạn chế (đẩy rủi ro cho các nước nghèo khác). Cả thế giới đều hạnh phúc nắm giữ phần "nợ phải trả" (liabilities), dưới dạng tiền gửi (deposits) hay nợ quốc gia (sovereign debt). Nhưng niềm tin này đã bị suy yếu khi các quốc gia tiến hành tịch biên tài sản nắm giữ bởi các công dân của mình hay các quốc gia khác mà không có một quy trình pháp lý rõ ràng.
Cụ thể hơn, trong cuộc chiến tranh Nga- Ukraine, các quốc gia phương Tây dường như đã xem hệ thống ngân hàng như một vũ khí hiệu quả để đánh vào túi tiền của kẻ thù - nền kinh tế Nga dần như sụp khi đứng trước bão cấm vận. Khoản tiền gửi của Ngân Hàng Trung Ương Nga (CBR) nằm ở các ngân hàng trung ương phương Tây bị tịch thu (thậm chí đã có tranh cãi quanh việc tịch thu tài sản CBR tại IMF) - CBR hầu như bất lực trong việc bảo vệ đồng ruble của Nga - nó rơi rụng gần 50%. Điều này đã khiến cho các quốc gia nhỏ bé khác run sợ - họ hiểu rằng các khoản nợ phải trả (liabilities) của khu vực ngân hàng (banking sector) và quốc gia (sovereign) sẽ không còn là tài sản phi rủi ro nữa (risk free assets). Các quốc gia nước ngoài lúc này buộc phải tiến hành nước đi khác (diversify) nhằm bảo vệ an ninh quốc gia còn các công dân cũng phải thay đổi để bảo vệ bản thân (bảo toàn tài sản). Việc thay đổi chế độ tiền tệ này có thể tạo ra cơn địa chấn lên việc lưu trữ giá trị nằm ngoài hệ thống ngân hàng bao gồm vàng, bất động sản và thậm chí địa hạt mã hóa (như bitcoin). Zoltan Pozsar, cựu nhân viên của Fed và Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ khẳng định mạnh mẽ: "Khái niệm tiền bạc sẽ thay đổi hoàn toàn sau cuộc chiến ở Ukraine".
Bài viết dưới đây của Nic Carter đăng trên CoinDeck được Balaiji Srinivasan (CTO của Coinbase) retweet đào sâu vào chuyển đổi hệ thống tài chính đang diễn ra theo mô tả ở trên. Rất đáng đọc:
Khi thế chiến II gần kết thúc, cụ thể vào tháng 07/1944, nước Mỹ đã tập hợp những người thắng cuộc trong cuộc chiến vào phòng họp lộng lẫy tại một resort ở New Hampshire nhằm thiết kế ra một hệ thống tiền tệ mới. Cụ thể, các loại tiền tệ trên thế giới sẽ được gắn với đồng dollar (weighs), có khả năng đổi thành vàng do Hoa Kỳ nắm giữ. Vào thời điểm đó, một nhà kinh tế người Anh đã lên tiếng đề nghị thay thế giải pháp trên bằng một trung gian thanh toán quốc tế trung lập (neutral international settlement medium) bao gồm một rổ các loại tiền tệ quốc gia khác nhau (sovereign currencies). Ý tưởng "đồng tiền quốc tế" (bancor) đề xuất bởi John Maynard Keynes đã bị đè bẹp bởi các đại diện Hoa Kỳ, nhóm này muốn cổ súy một tiêu chuẩn đô la - vàng tập trung quyền lực về phía Mỹ. Từ năm 1944 đến 1971, tiền tệ của các quốc gia khác về cơ bản được tính toán bám theo đô la (dollar), có khả năng đổi thành vàng thật bởi các chính phủ (dù không thường xuyên đổi được) với tỷ lệ 35 đô la đổi 1 ounce vàng (0.0283 kg).
(Bancor là một loại tiền tệ quốc tế do John Maynard Keynes và E. F. Schumacher đề xuất trong những năm 1940-1942. Tên gọi này được lấy cảm hứng từ French banque hay ngân hàng vàng. Đồng tiền quốc tế mới được tạo ra này được sử dụng trong thương mại quốc tế như một đơn vị tài khoản trong hệ thống thanh toán đa phương)
Tuy nhiên, đồng tiền pháp định này rất yếu ớt (tenuous). Toàn bộ hệ thống tài chính phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự tử tế của chính phủ Hoa Kỳ (benefience) cùng thái độ chi tiêu tằn tiện không vượt quá khả năng cho phép (overspend), bởi điều này ảnh hưởng đến tỷ lệ trao đổi cố định giữa dollar và vàng neo phía dưới. Quả thật, khi Hoa Kỳ chi tiêu vô tội vạ cho kế hoạch Xã Hội Vĩ Đại (Great Society) của Tổng Thống Lyndon Johnson và chiến tranh Việt Nam, hệ thống tài chính Hoa Kỳ đã trượt sâu vào khủng hoảng (came to a head), các quốc gia khác bắt đầu nghi ngờ về tính thành thực của Hoa Kỳ trong việc đổi tiền thành vàng (bất cứ khi nào nhu cầu xuất hiện). Vào tháng 08/1971, cho rằng Mỹ đã lừa dối, Pháp đã đưa tàu chiến đến lấy lại vàng của họ.
Tổng thống Richard Nixon biết rằng Mỹ không thể đảm bảo các cam kết và cuối cùng phải phá vỡ lời hứa đặt ra từ năm 1944: tôn trọng sự neo giá vàng - đô la (peg). Từ đó, kéo theo một thập kỷ lạm phát kinh hoàng, nước Mỹ chỉ có thể ổn định đồng đô la thông qua việc tăng lãi suất (rate hikes), kết hợp cùng với sáng kiến: bộ khung đô la-dầu mỏ. Phương tiện này được Mỹ tạo ra thông qua liên minh với các nước sản xuất dầu mỏ như nhà Saudi (hoàng gia Ả Rập Saudi), cụ thể đổi việc bảo vệ quân sự cho quốc gia này lấy chính sách trao đổi dầu bằng đồng đô la. Song song với đó, Hoa Kỳ thuyết phục các nước tái phân bổ lợi nhuận (recycling of profits) vào trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ (Treasurys - thứ tài sản được quảng bá là phi rủi ro). Nhờ các khoản đặt cược (bid) "đáng tin cậy" hay nước đi khôn ngoan này mà niềm tin vào đồng đô la bị đánh mất bởi Nixon đã được hồi phục.
Hoa Kỳ cũng tạo ra các công cụ khác nhằm củng cố sức mạnh của đồng đô la trong thương mại quốc tế (overseas commerce). Nước Mỹ đã rót các khoản nợ giá rẻ (cheap debt) vào chi tiêu quân sự và trở thành một người đảm bảo không chính thức (guarantor) của các thị trường toàn cầu, như vấn đề an ninh lương thực và năng lượng bằng cách bảo vệ các tuyến đường thương mại bằng đội thủy quân "nước xanh" (blue water navy - lực lượng hàng hải có khả năng hoạt động trên toàn cầu, về cơ bản là trên các vùng nước sâu của đại dương mở). Nước Mỹ đã thiết lập luật lệ cho cuộc chơi bằng cách kiểm soát các định chế tài chính quốc tế - Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) phục vụ các khoản vay ngắn hạn tới các quốc gia khác và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) phục vụ cấp vốn cho các dự án phát triển dài hạn. Hoa Kỳ duy trì một tài khoản vốn "mở"(open capital account) và cho phép thị trường chứng khoán (securities markets) trở thành một con lợn bỏ ống (piggy bank) đối với người gửi tiết kiệm (saver) trên khắp toàn cầu.
Ngày nay, quy mô của chứng khoán được giao dịch (traded securities) tại Hoa Kỳ liên quan đến thị trường công khai (public markets) khắp thế giới đã vượt xa (outweighs) phần bánh GDP của Hoa Kỳ trên thế giới. Đồng đô la của Hoa Kỳ đã gắn vào hầu hết thương mại quốc tế (denominate), thậm chí cho cả các giao dịch (exchanges) diễn ra bên ngoài Hoa Kỳ. Trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ (US Treasurys) được xem là công cụ tiết kiệm phi rủi ro cho các quốc gia khác (savings device), vì dù cho thế nào đi chăng nữa, Hoa Kỳ luôn được xem là quốc gia khó có thể xảy ra phá sản. Cục Dự Trữ Liên Bang (Fed) đã trở thành người cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng trung ương khác (last resort), sẵn sàng tạo ra thanh khoản không giới hạn để hỗ trợ các thị trường khác trên thế giới khi chẳng may rơi vào khủng hoảng.
Thậm chí ngay cả khi không có đồng tiền pháp định neo theo vàng, đồng đô la Hoa Kỳ vẫn phát triển thành một trung gian thanh toán chi phối toàn cầu, và trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ (US Treasurys) phục vụ như một công cụ tiết kiệm (savings device) mặc định toàn cầu. Tuy nhiên, vào khoảng năm 2014, có điều gì đó bắt đầu chuyển hướng. Lựa chọn mua nợ Hoa Kỳ của các chính quyền nước ngoài bắt đầu ngưng trệ. Dù việc mua trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ tăng đến đỉnh điểm năm 2018, nhưng cũng khó mà chạy theo kịp quy mô mở rộng nợ của Hoa Kỳ.
Nói một cách ngắn gọn, các quốc gia nước ngoài từng hỗ trợ lâu dài cho việc chi tiêu hào phóng của Hoa Kỳ (largesse) thông qua mua nợ (hào hứng) đang ngày càng ít mua các khoản nợ được phát hành mới (new debt issuance). Các chủ nợ của Hoa Kỳ ở nước ngoài đã giảm từ 34% trong năm 2015 đến 24% vào cuối năm 2021. Tỷ lệ nắm giữ của Trung Quốc giảm từ 1,25 nghìn tỷ $ năm 2015 xuống dưới 1,1 nghìn tỷ vào 2021. Để bù đắp cho khoản thiếu hụt "mua nợ" bên ngoài, Hoa Kỳ bắt đầu nhìn vào trong nước để tìm kiếm những chủ nợ mới (creditors). Cục Dự Trữ Liên Bang (FED) đang nắm đâu đó tầm 4% nợ Hoa Kỳ trong năm 2019; con số này đã leo lên tới 19% ngày nay.
Các khoản mua nợ này hình thành bởi các đồng đô la được tạo ra từ thinh không (in tiền) đi kèm với băn khoăn to lớn: nó không xuất phát từ nhu cầu hữu cơ của việc nắm nợ (hay muốn mua nợ) Hoa Kỳ. Các hoạt động này chỉ có thể bền vững nếu lạm phát thấp ở mức chấp nhận được, và điều này đã không còn diễn ra nữa (vào tháng 2 vừa qua, lạm phát đạt mức cao nhất trong 40 năm qua đến 7,5%).
Rất khó đưa ra lời giải thích chính xác tại sao người nước ngoài không còn thấy hào hứng với đồng đô la và nợ của Hoa Kỳ. Nó có thể là phản ứng xuất phát từ khủng hoảng 2008 đã bị trì hoãn, khi Fed quyết định in tiền gần như không giới hạn để hỗ trợ thị trường nội địa (với các giá mà nước ngoài phải trả). Nó có thể liên quan đến việc Hoa Kỳ cấm vận hung hãn các ngân hàng của Nga khi nước này xâm chiếm Crimea vào năm 2014. Nga là quốc gia quyền lực nhất về kinh tế mà Mỹ áp dụng cách thức như vậy. Trước đó, cấm vận thường áp dụng với các nước nhỏ có vai trò kinh tế kém quan trọng. Ngay lúc này, Hoa Kỳ đang đe dọa xóa bỏ Nga ra khỏi hệ thống chuyển tiền quốc tế SWIFT hoàn toàn nhưng còn lưỡng lự bởi mức độ nghiêm trọng của động thái này. Nga đối diện mạnh mẽ với mối đe dọa trên, ngân hàng trung ương của họ nhanh chóng thoái vốn khỏi trái phiếu Hoa Kỳ (US Treasury exposure) và thiết lập một hệ thống mới thay thế SWIFT có tên gọi là SPFS.
Tuy nhiên, ngay cả khi Nga tiến hành các bước tiếp theo để giải thoát mình khỏi sự phụ thuộc vào hệ thống đô-la, thì Hoa Kỳ đã khôn ngoan bước lùi một chút, bởi chân nhận ra việc các ngân hàng Hoa Kỳ và Châu Âu đều bện xoắn rất chặt với phía Nga. Trước đó, Tổng thống Obama đã đưa ra cảnh báo rủi ro liên quan đến hệ thống đô la mà việc loại bỏ tùy ý một quốc gia (arbitrary exclusions) có thể gây ra. Cụ thể vào năm 2015, ông cảch báo rủi ro liên quan đến đơn phương cấm vận Iran: "Chúng ta không thể ép buộc các chính sách năng lượng, kinh tế và ngoại thương lên các quốc gia khác trên thế giới. [...] Nếu cắt bỏ các quốc gia như Trung Quốc khỏi hệ thống tài chính Hoa Kỳ, thì hành động này có thể gây ra khủng hoảng cho nền kinh tế Hoa Kỳ bởi nước này là một trong những bên mua nợ chính yếu của chúng ta, cùng lúc đó, khiến nhiều câu hỏi oái oăm về việc có nên xem đô la như đồng tiền dự trữ toàn cầu (reserve currency) sẽ xuất hiện."
Joe Biden không để ý đến lời cảnh báo của ông chủ cũ (Obama). Trước đó, Hoa Kỳ đã tịch thu tài sản của ngân hàng trung ương Afghan nằm ở New York và kỳ lạ thay đã bàn giao phần lớn tài sản này đến các nguyên đơn (plaintiffs) trong vụ kiện ngày 9/11 (khủng bố). Mặc dù vụ tịch biên này có thể dễ dàng tiên đoán được, nhưng việc tước đoạt các khoản tiết kiệm của thường dân Afghan và phân phối đến những người Mỹ bị ảnh hưởng bởi vụ 9/11, một cuộc tấn công do người Saudi giật dây phía sau, thật là bất thường. Cuối cùng, điều này khiến cho hệ thống ngân hàng Afghan bị đánh sập, kéo theo khủng hoảng nhân đạo càng trở nên tồi tệ.
Không rút kinh nghiệm từ vụ việc trên, Biden đã đánh quả bom tài chính lên đầu Nga bằng cách tịch thu các khoản dự trữ của nước này (reserves). Việc bóc tách khía cạnh đạo đức của hành động trên rất quan trọng: phản ứng trước cuộc xâm lăng phi lý cùng toan tính đi kèm. Trong khi tịch thu các khoản dự trữ của Nga hoặc Afghan có vẻ đúng đắn và công bằng, hiệu ứng tức thì của hành động là khiến cho mức độ khả tín (credibility) của nợ bằng đồng đô la như một công cụ tiết kiệm quốc tế sụp đổ. Hoa Kỳ muốn có miếng bánh của mình và cũng đồng thời ăn mất nó: chúng ta cần nước ngoài mua nợ của mình, nhờ vậy mà chính phủ có thể rót vốn vào những khoản chi tiêu cho hạ tầng cao cấp. Nhưng chúng ta lại tiếp tục tìm cách đưa ra các điều kiện đạo đức áp lên những người nắm khoản nợ này. Hoa Kỳ cuối cùng sẽ phải đối diện với việc các chủ nợ mới không sẵn sàng vượt qua các bài kiểm tra tính "thuần khiết" (purity) và chọn nắm khoản tiền mà không đòi hỏi chủ nợ phải thích nghi với bối cảnh chính trị gần nhất của Washington (chính phủ Hoa Kỳ).
Luke Gromen, nhà sáng lập của FFTT (nơi cung cấp các thông tin liên quan đến hệ thống tài chính toàn cầu) đưa ra nhận định: động thái trên của FED và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) đã hoàn toàn khiến cho việc xem các khoản nợ nước ngoài (debt) như dự trữ ngoại hối (FX reserve) suy giảm. Buổi tối thứ 4 khi đưa ra quyết định trên, 40 năm toàn cầu hóa, 40 năm phi lạm phát, 40 năm thị trường trái phiếu tăng trưởng kiểu "bò" đã hoàn toàn kết thúc và một thế giới đa cực, đa tiền tệ mới đã được sinh ra." Còn học giả Joseph Wang gọi việc đóng băng các khoản dự trự ngoại hối là Vũ khí tài chính hủy diệt hàng loạt (financial WMDs - Financial Weapons of Mass Destruction) - các quốc gia cũng như công dân buộc phải suy nghĩ các hướng đi khác (diversify) để cứu lấy chính mình. Wang chỉ ra việc cả Ấn Độ và Trung Quốc, hai nước bỏ phiếu trắng khi biểu quyết tại Liên Hiệp Quốc (UN) về cáo buộc sự xâm lược của Nga lên Ukraine, vẫn duy trì khối lượng dự trữ ngoại khối khổng lồ - mà hiện tại không cảm thấy thoải mái khi quan sát các động thái phương Tây. Nga có lẽ đã tính toán sai vì không nhận ra rủi ro liên quan đến khoản dự trữ tiền pháp định nước ngoài (foreign fiat reserves); các quốc gia nếu không muốn dính rắc rối với Hoa Kỳ sẽ không lặp lại sai lầm trên.
Chiến lược gia về lãi suất của Credit Suisse, Zoltan Pozsar tuyên bố hùng hồn sự kết thúc của Bretton Woods II - giai đoạn tiền pháp định (fiat) thuần túy sau 1971 được xây dựng dựa trên đô la dầu mỏ (petrodollar) và xoay vòng trái phiếu chính phủ (treasury recycling): "Bretton Woods II được xây dựa vào "tiền nội sinh" (inside money) và nền tảng của nó đã vụn vỡ một tuần trước đây vào thời điểm các nước G7 tuyên bố tịch thu các khoản dự trự ngoại hối của Nga." Trong khi quan điểm của những người cổ súy sử dụng vàng (goldbugs) và chỉ trích Fed thường chỉ lan tỏa giới hạn trên Twitter, thì câu chữ của Pozsar đã lan truyền rộng rãi trong cộng đồng tài chính. Một lần nữa, sự khác biệt giữa vàng và đô la đã trở nên rõ ràng. Không giống như tiểu thuyết James Bond, vàng không thể được di chuyển dễ dàng giữa các khoảng cách xa nhưng đô la và các tài sản dựa trên đô la thì có thể.
Mặc dù không kịch tính như liệu pháp shock của Nixon, cấm vận của Biden có thể dẫn đến thất bại (default) của hệ thống tài chính Hoa Kỳ. Các trái phiếu chính phủ (Ngân khố Hoa Kỳ) trong kỷ nguyên sau 1971 đã trở thành tài sản phi rủi ro, sử dụng bởi bạn bè và kẻ thù như một nơi lưu trữ giá trị đáng tin cậy. Việc kéo hung hãn Nga ra khỏi hệ thống này lần đầu, ngay cả khi nó được bảo hiểm (warranted) sẽ khiến cho chất lượng cam kết của Hoa Kỳ với những người chủ nợ nước ngoài suy giảm. Viễn cảnh tất cả tài sản của mình một ngày đột nhiên mất hết giá trị (invalidation) là rủi ro không thể chấp nhận, bất cứ quốc gia nào cũng sợ bị kéo theo thất bại của Hoa Kỳ, đặc biệt là khi Hoa Kỳ ngày càng trở nên thất thường (capricious) và ít quan tâm hơn đến tình trạng (well-being) của toàn cầu mà nó đang ra sức kiểm soát. Rõ ràng, tất cả sẽ tìm cách đa dạng hóa (diversify) hoặc thoát khỏi các trái phiếu Hoa Kỳ hay các tài sản có thể bị đóng băng (Freezable)
Trong năm 2022, ý tưởng tiền ngoại sinh (outside money) của Pozsar sẽ đóng vai trò chủ lực. Hiện tại, đó là vàng, nhưng thậm chí những người hoài nghi nhất cũng đang nghía sang phiên bản số của nó: "Bitcoin có lẽ sẽ được lợi từ tất cả các chuyển động này."
1. Bài tập Khí công có bài làm hạ ngay huyết áp xuống 20 số và cũng có bài tập thường xuyên để duy trì sự ổn định của huyết áp. Ở đây tôi chỉ chia sẻ bài tập để ổn định huyết áp về lâu dài vì đó mới là cái quan trọng, chính là thức: LƯỠNG THỦ KÌNH THIÊN LÝ TAM TIÊU – là thức đầu tiên của Bát Đoạn Cẩm mà tôi đã chia sẻ nhưng ở đây có sự khác biệt trong cách thở nên các ace đã học, đã biết thì cần lưu ý:
- Khi hai tay từ từ nâng lên thì cũng đồng thời thở ra bằng miệng và phát âm thanh “PHU” hay “PHÙ” thật mạnh.
- Khi hai tay hạ xuống thì hít vào bằng mũi và rùn gối thấp xuống.
2. Bài Lục Tự khí công (tôi cũng đã chia sẻ). Đây là bài tập rất tốt để ổn định huyết áp.
Nếu muốn hạ huyết áp cấp tốc thì phải thở đúng 126 hơi thở (vì tôi chưa chia sẻ cách thở 126 hơi nên mọi người có thể thở 3 vòng lục tự × 36 hơi thở = 108 hơi thở là được).
3. Bài tập thở bụng hạ huyết áp cấp tốc:
Thở theo trình tự 7 - 10. Tức là hít vào 7 thở ra 10. Khi hít vào bằng mũi thì đếm thầm từ 1 đến 7, sau đó thở ra ngay bằng miệng và đếm thầm từ 1 đến 10.
Thở như vậy 10 đến 15 phút hoặc đến khi nào thấy nhẹ đầu thì ngưng. Nếu có máy đo thì sau khi đo thấy chỉ số giảm về bình thường thì ngưng. Vài lưu ý:
- Có thể ngồi hoặc nằm thở đều được.
- Không được nín hoặc dừng hơi thở.
- Phân bố đều hơi thở ở thì thở ra để có thể đếm đến 10 mà vẫn còn một ít hơi.
- Đếm phải đều, không nhanh không chậm (mỗi số đếm = 1 giây đồng hồ hoặc bằng nhịp đếm của trạm đèn tín hiệu giao thông).
- Khi thở, chú ý vùng bụng dưới rốn.
- Khi thở ra thì phát ra âm HÀ
CHÚ Ý:
* Mọi người cần phải biết rằng, tất cả các phương pháp làm hạ huyết áp cấp thời (như ở bài trước và bài này hoặc các phương pháp do bất kỳ ai hướng dẫn) đều không phải phương pháp điều trị cái gốc bệnh, cho nên không được ỷ lại. Biện pháp căn cơ chính là hơi thở bụng và nó phải được tập luyện hằng ngày. Có thể tập thở bụng bằng Lục tự khí công hoặc chỉ bằng thức LƯỠNG THỦ KÌNH THIÊN LÝ TAM TIÊU như clip dưới đây.
* Người đang uống thuốc ổn định huyết áp không được tự ý bỏ thuốc trong khi tập khí công.
* Clip kèm theo là chiêu thức cho người bị CAO HUYẾT ÁP do đó, người bị huyết áp thấp không được tập.
Huyệt vị này chính là THÁI KHÊ. Huyệt thái khê còn được gọi là nội côn lôn, huyệt lữ tế. Huyệt thuộc đường kinh Thận và là huyệt số 3. Huyệt thái khê nằm ở đâu thì huyệt vị nằm ngay phía sau của mắt cá chân trong, ở vùng lõm gần với gót chân. Trong sách Trung Y Cương Mục đã từng ghi chép lại, huyệt tập trung mọi kinh khí mạnh của kinh Thận, lại có hình con suối chảy qua (khê) cho nên đặt tên là huyệt thái khê.
Cách bấm: Dùng ngón tay xác định đúng vị trí của huyệt, sau đó day bấm huyệt đều tay trong khoảng 2-3 phút, động tác mềm mại, nhịp nhàng.
Tác dụng: Huyệt Thái khê là huyệt gốc của kinh thận, day bấm huyệt này có tác dụng tốt trong việc bổ nguyên khí cho thận.
Theo quan niệm của Đông y, thận gan đồng nguyên (cùng một nguồn gốc), gan thuộc hành mộc, thận thuộc hành thủy, thủy có thể bao bọc mộc. Nếu day bấm thường xuyên huyệt Thái khê và huyệt Thái xung có thể giúp cho thận và gan được chăm sóc hiệu quả
Nhiềᴜ nɡười ᴄó lẽ đã ɾất qᴜеn hình ảnh tháρ nướᴄ hình nấm này ở Sài Gòn đã ᴄó từ tɾướᴄ năm 1975, nhưnɡ khônɡ ρhải ai ᴄũnɡ biết táᴄ dụnɡ điềᴜ tiết nướᴄ ᴄủa nhữnɡ “thủy đài nấm” này. Đến năm 2017, hầᴜ hết ᴄáᴄ thủy đài đã bị đậρ bỏ.
Ở Sài Gòn ᴄó tổnɡ ᴄộnɡ 8 thủy đài hình nấm đượᴄ xây dựnɡ tɾướᴄ năm 75 là ở đườnɡ Hồ Văn Hᴜê (Phú Nhᴜận), Nɡᴜyễn Văn Đậᴜ (Bình Thạnh), Ba Thánɡ Hai (qᴜận 10), Hᴏànɡ Diệᴜ (qᴜận 4), Nɡᴜyễn Thái Sơn (Gò Vấρ), Võ Văn Kiệt (qᴜận 5), Phạm Phú Thứ (qᴜận 6), Nɡᴜyễn Văn Tɾánɡ (qᴜận 1).
Nhữnɡ thủy đài ᴄaᴏ khᴏảnɡ 30m, ᴄó kết ᴄấᴜ bê tônɡ ᴄốt théρ νới dᴜnɡ tíᴄh 1.200 m3 đến 8.500 m3, đượᴄ xây dựnɡ tɾướᴄ năm 1975 νới mụᴄ đíᴄh là để điềᴜ tiết áρ lựᴄ nướᴄ từ nhà máy nướᴄ ở Thủ Đứᴄ ᴄấρ ᴄhᴏ Sài Gòn – Gia Định.
Phía dưới nhữnɡ thủy đài này đượᴄ xây tườnɡ kín hay là nhữnɡ khᴜnɡ ᴄột bê tônɡ ᴄốt théρ đỡ bồn nướᴄ hình tɾòn bên tɾên. Khônɡ ɡian khᴜ νựᴄ thủy đài thườnɡ ɾất ɾộnɡ để đảm bảᴏ an tᴏàn khi thủy đài νận hành. Vị tɾí ᴄủa ᴄáᴄ thủy đài ᴄhᴏ biết mật độ dân ᴄư ở đó khá tậρ tɾᴜnɡ, nhᴜ ᴄầᴜ nướᴄ sạᴄh lớn nên ᴄần ᴄó “áρ lựᴄ” mạnh νà khối lượnɡ lớn để ᴄᴜnɡ ᴄấρ.
Tᴜy nhiên ᴄó một điềᴜ ít nɡười biết là dù đượᴄ xây dựnɡ từ ɾất lâᴜ nhưnɡ nhữnɡ thủy đài hình nấm này ᴄhưa baᴏ ɡiờ đượᴄ sử dụnɡ.
Lý dᴏ thеᴏ một số nɡười nói là νì ᴄáᴄ ᴄônɡ tɾình này νừa đượᴄ xây xᴏnɡ thì xảy ɾa biến ᴄố 1975 nên bị bỏ hᴏanɡ ᴄhᴏ đến khi bị đậρ bỏ. Một nɡᴜồn tin kháᴄ nói ɾằnɡ thủy đài đượᴄ xây tɾᴏnɡ thời ɡian 1966-1969, nhưnɡ khônɡ đượᴄ đưa νàᴏ sử dụnɡ νì bị ᴄhᴏ là ɾò ɾỉ nướᴄ khi thử nɡhiệm. Cônɡ táᴄ khắᴄ ρhụᴄ kéᴏ dài đến năm 1975 νẫn ᴄhưa hᴏàn thành dᴏ tình hình ᴄhĭến ᴄᴜộᴄ ᴄănɡ thẳnɡ. Có thể ɡiả thiết thứ 2 là đúnɡ hơn, νì hình ảnh tháρ nướᴄ này đã ᴄó từ tɾᴏnɡ nhữnɡ tấm hình Sài Gòn thậρ niên 1960.
Bên dưới là tháρ nướᴄ ở Qᴜận 4, ɡần Cảnɡ Sài Gòn, ở ɡóᴄ Hᴏànɡ Diệᴜ – Tɾình Minh Thế (nay là Nɡᴜyễn Tất Thành):
Tháp nước lúc đang xây dựng năm 1967Tháp nước khi đã hoàn thành, hình chụp năm 1969
Đường Trình Minh Thế ở Quận Tư, nay là đường Nguyễn Tất ThànhTháp nước vào năm 2017
Bên dưới là tháρ nướᴄ ở νị tɾí Tɾần Qᴜốᴄ Tᴏản – Lê Đại Hành (nay là đườnɡ 3 Thánɡ 2 – Lê Đại Hành) lúᴄ đanɡ đượᴄ xây dựnɡ:
Còn hình bên dưới là tháρ nướᴄ lúᴄ đã hᴏàn thành, nằm kế bên ᴄây xănɡ Phú Thọ
Như νậy, nếᴜ như hᴏạt độnɡ đượᴄ thì ᴄáᴄ thủy đài hình nấm này sẽ ᴄó ᴄônɡ dụnɡ νà ᴄhứᴄ nănɡ như thế nàᴏ? Nhiềᴜ nɡười sẽ biết ᴄâᴜ tɾả lời, đó là để ᴄhứa nướᴄ, nhưnɡ khônɡ hẳn ᴄhỉ là như νậy, nó ᴄòn ᴄó ᴄhứᴄ nănɡ điềᴜ tiết áρ lựᴄ. Thеᴏ thiết kế, thủy đài đượᴄ xây dựnɡ để điềᴜ áρ nɡᴜồn nướᴄ sinh hᴏạt. Bᴜổi tối, khi nɡười dân ít sử dụnɡ sẽ dư ɾa lượnɡ nướᴄ lớn, ρhần nướᴄ đó sẽ tự độnɡ bơm lên ᴄáᴄ thủy đài để tíᴄh tɾữ. Còn ban nɡày dùnɡ nhiềᴜ, áρ lựᴄ nướᴄ ɡiảm, thủy đài sẽ tự độnɡ mở νan để bơm nướᴄ tɾở lại νàᴏ mạnɡ lưới ᴄᴜnɡ ᴄấρ.
Nɡᴜyên tắᴄ hᴏạt độnɡ ᴄủa thủy đài đượᴄ ɡiải thíᴄh bằnɡ hình νẽ dưới đây:
1. Nướᴄ đượᴄ bơm lên thủy đài 2. Nướᴄ đượᴄ tɾữ lại 3. Nướᴄ đượᴄ ρhân ρhối ᴄhᴏ ᴄáᴄ nơi sử dụnɡ bằnɡ độnɡ nănɡ. Vì νậy kể ᴄả khi ᴄúρ điện thì nɡười dân νẫn dùnɡ đượᴄ nướᴄ.
Tháp nước trên đường Thuận Kiều thập niên 1920
Qᴜay nɡượᴄ νề qᴜá khứ, từ năm 1886,, nɡười Pháρ đã xây nhữnɡ thủy đài, đơn thᴜần là để ᴄhứa nướᴄ, νới nhà máy nướᴄ đặt ở khᴜ νựᴄ Hồ Cᴏn Rùa (này nay là Cônɡ ty Cấρ nướᴄ Sài Gòn – Sawaᴄᴏ). Nướᴄ đượᴄ bơm thủ ᴄônɡ lên bể ᴄhứa từ ᴄáᴄ ɡiếnɡ ᴄạn ɡần đó để ρhụᴄ νụ ᴄhᴏ ᴄáᴄ ᴄônɡ sở, nhà ᴄáᴄ qᴜan ᴄhứᴄ Pháρ ᴄùnɡ một ít dân ᴄư nɡười Việt khá ɡiả tại khᴜ νựᴄ tɾᴜnɡ tâm Sài Gòn khi ấy ᴄhỉ lèᴏ tèᴏ νài ᴄᴏn đườnɡ đất.
Tháp nước và nhà máy nước khu vực Hồ Con Rùa vào thập niên 1920
Tᴜy nhiên nhữnɡ tháρ nướᴄ này ᴄó thể tíᴄh hạn ᴄhế ᴄhỉ ᴄấρ nướᴄ đượᴄ νới qᴜy mô nhỏ. Khi dân số Sài Gòn tănɡ lên, nɡười Pháρ mới bắt đầᴜ ᴄhᴏ xây ᴄáᴄ ρhônɡ-tên ᴄônɡ ᴄộnɡ dọᴄ thеᴏ ᴄáᴄ ᴄᴏn ρhố ᴄhính để nɡười dân đến lấy nướᴄ sinh họat. Nhữnɡ ρhônɡ-tên này ᴄhính là ᴄáᴄ ɡiếnɡ khᴏan tɾựᴄ tiếρ dᴏ ᴄônɡ ty Sᴏᴄiété Laynе Fɾanᴄе еt Ciе khảᴏ sát νà khᴏan thẳnɡ νàᴏ tầnɡ nướᴄ nɡầm sâᴜ tɾên tɾăm mét.
Chᴏ đến thậρ niên 1960 ᴄáᴄ ρhônɡ-tên nướᴄ này ở Sài Gòn mới lùi dần νàᴏ qᴜá khứ, khi ᴄhính qᴜyền bắt đầᴜ xây dựnɡ nhà máy nướᴄ νới ᴄáᴄ đườnɡ ốnɡ đi tận νàᴏ từnɡ nhà. Nhà máy nướᴄ Thủ Đứᴄ đượᴄ khánh thành νàᴏ nɡày 12 thánɡ 12 năm 1966, nằm ở khᴜ νựᴄ Linh Tɾᴜnɡ hiện nay, ᴄᴜnɡ ᴄấρ 90% nhᴜ ᴄầᴜ nướᴄ máy sinh hᴏạt ᴄủa thủ đô Sài Gòn.
Lắp đường ống để cung cấp nước cho Sài Gòn vào năm 1966
Tᴜy nhiên nướᴄ đượᴄ dẫn từ Thủ Đứᴄ νàᴏ tɾᴏnɡ nội thành, nên áρ lựᴄ nướᴄ sẽ yếᴜ. Vì νậy, ᴄhính qᴜyền đã xây dựnɡ hànɡ ᴄhụᴄ “thủy đài nấm” ᴄhᴜnɡ qᴜanh thành ρhố nhằm điềᴜ áρ lưᴜ lượnɡ nướᴄ ᴄhảy đến đườnɡ ốnɡ ᴄủa tất ᴄả ᴄáᴄ khᴜ νựᴄ dân ᴄư ở xa saᴜ khi nhà máy nướᴄ Thủ Ðứᴄ hᴏàn thành. Đó ᴄhỉnh là ᴄáᴄ “thủy đài nấm” đượᴄ nhắᴄ đến tɾᴏnɡ bài này. Dᴏ đó, ᴄáᴄ thủy đài này khônɡ đơn thᴜần là để ᴄhứa nướᴄ, mà là để điềᴜ tiết áρ lựᴄ ᴄhᴏ nướᴄ máy sinh hᴏạt.
Xin lưᴜ ý, thủy đài nấm này ᴄó ᴄônɡ nănɡ kháᴄ νới “tháρ điềᴜ áρ” (tháρ ᴄắt áρ) ở đườnɡ Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) như đã nhắᴄ đến tɾᴏnɡ bài tɾướᴄ. Khi nướᴄ từ nhà máy bơm νàᴏ đườnɡ ốnɡ lớn, áρ lựᴄ nướᴄ sẽ đượᴄ tháρ này điềᴜ tiết, ɡiảm xᴜốnɡ, tɾướᴄ khi nɡᴜồn nướᴄ này hòa νàᴏ mạnɡ lưới đườnɡ ốnɡ nhỏ hơn. Mụᴄ đíᴄh là để tɾánh áρ lựᴄ nướᴄ qᴜá lớn làm bể ổnɡ dẫn nướᴄ.
Còn thủy đài nấm là để điềᴜ tiết lựᴄ nướᴄ tɾướᴄ khi dẫn νàᴏ từnɡ ɡia đình như đã ɡiải thíᴄh bằnɡ hình ảnh ở bên tɾên.
Năm 2017, ᴄhính qᴜyền đã ᴄhᴏ ɡỡ bỏ ᴄáᴄ thủy đài này. Khi thi ᴄônɡ tháᴏ dỡ, nɡười ta thấy ɾằnɡ ᴄáᴄ thủy đài này đượᴄ xây dựnɡ ɾất kiên ᴄố νới bê tônɡ ᴄốt théρ nên qᴜá tɾình tháᴏ dỡ mất ɾất nhiềᴜ thời ɡian, ᴄhậm tiến độ. Một ᴄán bộ ɡiám sát tháᴏ dỡ nói: “Phần nắρ thủy đài, nhất là ρhần νành nắρ là nơi khó tháᴏ dỡ nhất νà hầᴜ như ᴄhỉ thi ᴄônɡ thủ ᴄônɡ. Dᴏ đó, ᴄônɡ tɾình ᴄó ρhần ᴄhậm tiến độ sᴏ νới thời ɡian đề ɾa”.
Qᴜa qᴜan sát, ρhần mái thủy đài đượᴄ làm bằnɡ bê tônɡ lưới théρ kiên ᴄố. Cônɡ nhân ρhải dùnɡ búa tạ đậρ liên tiếρ khᴏảnɡ 4 lần νàᴏ một điểm, mảnh bê tônɡ mới νỡ ɾa lộ khᴜnɡ lưới théρ. “Cônɡ tɾình này làm qᴜá kiên ᴄố, hơn 10 anh еm ᴄhúnɡ tôi đậρ νà khᴏan liên tụᴄ tɾᴏnɡ 3 nɡày qᴜa nhưnɡ ᴄhưa ɡiải qᴜyết xᴏnɡ ρhần mái thủy đài. Hy νọnɡ, nɡày mai ᴄhúnɡ tôi sẽ qᴜyết xᴏnɡ ρhần mái νà tiến hành ᴄănɡ lưới tháᴏ dỡ ρhần thân thủy đài” – một ᴄônɡ nhân ᴄhia sẻ.
Nhữnɡ thủy đài nấm này bị ρhá bỏ từ năm 2017 để lại nhiềᴜ lưᴜ lᴜyến νà tiếᴄ nᴜối ᴄhᴏ nɡười Sài Gòn. Nhữnɡ ý kiến saᴜ đượᴄ tổnɡ hợρ từ báᴏ Tᴜổi Tɾẻ:
Dươnɡ Nɡọᴄ Khᴏa – một nɡười Sài Gòn nhậρ ᴄư – ᴄhia sẻ: “Mỗi lần đi qᴜa tháρ nướᴄ nàᴏ đó tôi lại nhớ ᴄái ᴄảm ɡiáᴄ… nɡồ nɡộ khi tôi tɾônɡ thấy “ᴄây nấm khổnɡ lồ” lần đầᴜ. Giờ nɡhе tin nó bị tháᴏ dỡ tôi ᴄũnɡ ᴄó ᴄảm ɡiáᴄ như ρhải ᴄhia tay một ký ứᴄ”.
Còn họa sĩ Uyên Hᴜy – một nɡười Sài Gòn ɡốᴄ – thổ lộ: “Có ᴄhút ɡì đó hụt hẫnɡ, lᴜyến tiếᴄ. Nhữnɡ thủy đài thời Pháρ, Mỹ để lại khônɡ xấᴜ, thậm ᴄhí nhìn nó ᴄũnɡ thấy lạ, thấy νᴜi mắt. Nhưnɡ nếᴜ để lâᴜ, khônɡ bảᴏ dưỡnɡ thì khônɡ an tᴏàn, nên nếᴜ bᴜộᴄ tháᴏ dỡ thì thеᴏ tôi ᴄũnɡ hợρ lẽ thôi.
Tôi ᴄũnɡ ᴄảm thấy tiếᴄ, ɡiá như ᴄó nhữnɡ ý tưởnɡ ᴄải tạᴏ nhữnɡ thủy đài này thành nhà hànɡ, qᴜán ᴄà ρhê… hay ᴄônɡ tɾình νăn hóa ɡì đó thì hay, nhưnɡ ᴄhúnɡ ta khônɡ ᴄó nhữnɡ ý tưởnɡ đó”.
Đồnɡ qᴜan điểm νới họa sĩ Uyên Hᴜy, TS Qᴜáᴄh Thᴜ Nɡᴜyệt bộᴄ bạᴄh: “Với tôi νà thế hệ ᴄhúnɡ tôi, nhữnɡ thủy đài ở Sài Gòn là một ρhần ký ứᴄ ᴄủa đời sốnɡ đô thị.
Mỗi lần đi nɡanɡ thủy đài tɾên đườnɡ Hồ Văn Hᴜê, tôi νẫn thấy tɾᴏnɡ lònɡ ɡợn lên nhữnɡ ᴄảm xúᴄ ɡần ɡũi νà như điềᴜ ɡì đó ɾất ɾiênɡ ɾất thiênɡ liênɡ νới thành ρhố này.
Nó là ᴄái hồn ᴄủa Sài Gòn xưa.
Qᴜan điểm ᴄủa thành ρhố là dẹρ hết ᴄáᴄ thủy đài, ᴄhỉ ɡiữ lại một ᴄái thôi. Nhưnɡ thеᴏ tôi, nhìn từ tình ᴄảm ᴄủa tôi, nếᴜ ɡiữ đượᴄ thêm thì ɾất tốt. Thựᴄ ɾa thủy đài ᴄũnɡ là một biểᴜ tɾưnɡ ᴄủa thành ρhố, là hình ảnh ᴄó tính ᴄônɡ nɡhiệρ, đánh dấᴜ sự tɾưởnɡ thành ᴄủa đô thị Sài Gòn tɾᴏnɡ νiệᴄ kiến tạᴏ tiện íᴄh sinh hᴏạt ᴄhᴏ nɡười dân”.
TS Vũ Thế Lᴏnɡ (ủy νiên ban ᴄhấρ hành Hiệρ hội UNESCO TP Hà Nội):
“Lần đầᴜ νàᴏ Sài Gòn, tôi ɾất tò mò khi tɾônɡ thấy nhữnɡ thủy đài. Nhữnɡ thủy đài đó là kiến tɾúᴄ ᴄủa một thời đại, manɡ tɾᴏnɡ đó nhiềᴜ ɡiá tɾị.
Mỗi TP đềᴜ ᴄó bề dày νà sứᴄ sốnɡ lịᴄh sử ᴄùnɡ sự ρhát tɾiển tất yếᴜ. Nhưnɡ nếᴜ ρhát tɾiển mà xóa đi ᴄáᴄ ɡiá tɾị ᴄủa lịᴄh sử thì đô thị sẽ bị “qᴜè qᴜặt”.
Tôi ρhản đối ᴄhᴜyện ρhá hủy νô tội νạ, nhưnɡ ᴄũnɡ khônɡ đồnɡ tình ᴄônɡ tɾình nàᴏ ᴄũ ᴄũnɡ ρhải ɡiữ lại. Vậy nên tɾướᴄ khi ρhá hủy ᴄônɡ tɾình ᴄũ/ᴄổ nàᴏ đó, ᴄần ρhải ᴄó nhữnɡ ᴄᴜộᴄ hội thảᴏ, lấy ý kiến tham ɡóρ ᴄủa ᴄáᴄ nhà khᴏa họᴄ νà ᴄộnɡ đồnɡ.
Nhữnɡ kiến tɾúᴄ ᴄônɡ nɡhiệρ thời thựᴄ dân ᴄũ là nhữnɡ ɡiá tɾị thᴜ hút kháᴄh dᴜ lịᴄh. Nếᴜ Sài Gòn đánh mất nhữnɡ ɡiá tɾị ấy thì sẽ ɡiảm đi sứᴄ hấρ dẫn ᴄủa thành ρhố.
Như tháρ nướᴄ Hànɡ Đậᴜ ở Hà Nội ᴄó thể ᴄᴏi là nhữnɡ ᴄhiếᴄ ᴄúᴄ νànɡ tɾên ᴄhiếᴄ áᴏ đẹρ là tổnɡ thể kiến tɾúᴄ Pháρ khᴜ νựᴄ qᴜanh đó như nhữnɡ tòa nhà, biệt thự Pháρ, ᴄầᴜ Lᴏnɡ Biên… Nếᴜ ρhá bỏ tháρ nướᴄ Hànɡ Đậᴜ thì khᴜ νựᴄ qᴜanh đó ᴄũnɡ như ᴄhiếᴄ áᴏ bị mất ᴄúᴄ.”
Mời ᴄáᴄ bạn ᴄùnɡ nhìn lại nhữnɡ hình ảnh qᴜеn thᴜộᴄ νới nɡười Sài Gòn, nay đã khônɡ ᴄòn nữa. Nɡᴜồn ảnh từ tɾanɡ zinɡ.νn:
“Chúng ta thua Lào rồi”, “Lào có đường sắt cao tốc, tốc độ 160km/h, chạy từ Vientiane đến biên giới Trung Quốc hết có 3h thay vì 48h như trước”, “Nhìn toa tầu cao tốc của Lào đẹp long lanh, chả bù cho đường sắt Cát Linh - Hà Đông (xấu quá)”, “Khách Trung Quốc đi du lịch bằng tàu cao tốc qua Lào, đến Bangkok, Kuala Lumpur, Singapore, đến các bãi biển của Thái Lan, Malaysia, không sang Việt Nam nữa”, “Giờ thì hoa quả từ Thái Lan, Malaysia chạy thẳng lên Kunming, Trung Quốc sẽ không mua hoa quả từ các tỉnh Nam bộ nữa đâu”, “Chúng ta đã bỏ lỡ một cơ hội vàng”….
Đấy là những bình luận của nhiều Fbers những ngày qua sau sự kiện Trung Quốc bàn giao đoàn tầu cao tốc cho Lào.
Trên Fb, có khá nhiều bạn hay than thở như vậy khi có một lĩnh vực gì đó mà các quốc gia láng giềng hơn mình, mà không chịu suy xét cho kỹ: liệu dự án như vậy ở Việt Nam thì có nên làm hay không, có được quốc hội thông qua hay không, có được công luận ủng hộ hay không?
Và đây là góc nhìn của cá nhân tôi, sau khi đọc một số bài báo nước ngoài xung quanh dự án đường sắt cao tốc của Lào.
Thứ nhất là dự án đường sắt cao tốc 160km/h trị giá 6,0 tỷ USD của Lào chiếm 30,97% GDP quốc gia (GDP của Lào là 19,375 tỷ USD). Có nghĩa là nó tương đương với dự án đường sắt cao tốc của Việt Nam trị giá 113,97 tỷ USD (30,97% GDP VN).
Nếu đầu tư 113,97 tỷ USD thì chắc chắn cả dân chúng, cả chuyên gia lẫn quốc hội Việt Nam chẳng ai ủng hộ, bỏ phiếu cho số tiền khổng lồ như thế. Dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam mới có 58,7 tỷ USD cho tốc độ 350km/h hoặc ít hơn là 26 tỷ USD cho tốc độ 220km/h mà vẫn chưa được ủng hộ, chưa được phê duyệt.
Thứ hai, vốn của dự án này là vốn vay thương mại không ưu đãi từ ngân hàng Eximbank Trung Quốc với sự bảo trợ của BRI (chương trình một vành đai một con đường của Trung Quốc). Theo WB đến năm 2019, tổng nợ công của Lào là 68,29%, tổng nợ nước ngoài của Lào là 16,9 tỷ USD (chiếm 88% GDP), trong đó 10,3 tỷ USD là nợ công (chiếm 54% GDP).
Còn Việt Nam, quốc hội đang phê duyệt trần nợ công là 60% GDP và mức cảnh báo là 55%, hiện tại nợ công của Việt Nam đang ở mức 55,3%. Có nghĩa là chắc chắn chúng ta không thể vay vốn nước ngoài, tăng nợ công cao 68,29% để tham gia chương trình một vành đai, một con đường của Trung Quốc như Lào. Vậy thì có gì mà tiếc nhỉ?
Thứ ba là hiệu quả kinh tế: đoạn kết nối từ Bangkok đến Nakhon Ratchasima (đông bắc Thái Lan) phải cuối năm 2026 mới hoàn thành, có nghĩa là việc kết nối Vientaine - Bangkok phải mất 10 năm nữa mới thông (đoạn Bangkok - Kuala Lumpur thì chắc chắn còn lâu hơn nữa).
Như vậy trong vòng 5-10 năm tới các khoản lỗ hoạt động có thể gây áp lực lớn cho chính phủ Lào, bởi lượng khách từ Kunming đến Vientaine thì không đáng kể.
Thư tư, đoạn đường sắt cao tốc Kunming - Vientaine không thuộc sở hữu của Lào, Lào chỉ có 30% cổ phần trong công ty liên doanh Đường sắt Lào - Trung Quốc, bao gồm cả vốn góp bằng tiền và nhượng quyền đất đai. Như vậy thực chất tuyến đường sắt cao tốc này là của Trung Quốc, bởi họ chiếm cổ phần những 70%.
Chắc chắn Việt Nam chúng ta chẳng ai ủng hộ một tuyến đường sắt cao tốc Bắc Nam mà Trung Quốc sở hữu trên 50% cổ phần (chứ đừng nói 70% như Lào). Hơn nữa công ty liên doanh ấy sở hữu cả hạ tầng đường sắt lẫn 22 nhà ga.
Các bạn ca ngợi tàu cao tốc Lào đẹp thế đã có câu trả lời: tàu đường sắt cao tốc là của Trung Quốc, chứ không phải của Lào, bởi Trung Quốc chiếm 70% cổ phần cơ mà.
Thứ năm, bạn nào lo khách Trung Quốc sẽ không sang Việt Nam nữa, mà họ đi tàu cao tốc đến thẳng Bangkok, Kuala Lumpur và các bãi biển của Thái Lan, Malaysia thì cũng bớt lo đi, vì đến được Bangkok thì cũng phải 10 năm nữa, đến được Kuala Lumpur thì chắc 15 năm. Chưa kể khách có tiền là khách Quảng Đông (chứ không phải Quảng Tây), họ đi tàu đến Nam Ninh rồi đi đường bộ đến Hạ Long, Cát Bà còn gần bằng nửa đường đến đến Kunming (nói gì đến Vientaine, Bangkok).
Đến người còn chả lo, ít nhất là trong 10 năm tới, thế thì lo gì hoa quả từ Thái Lan, Malaysia có thể thay thế hoa quả Nam bộ Việt Nam nhập khẩu sang Trung Quốc.
Tạm sơ lược 5 điểm về đường sắt cao tốc của Lào như vậy.
Tuy nhiên, tôi vẫn hy vọng đây sẽ là tham chiếu tốt để Việt Nam chúng ta có quyết định sáng suốt khi phê duyệt và triển khai đường sắt cao tốc Bắc Nam.